|
Ngày cập nhật: 23/08/2010
Chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, sau gần một năm được Bộ Chính trị phát động, đã có những thành công bước đầu.

Tuy nhiên, để hàng nội địa thực sự trở thành sự lựa chọn ưu tiên của người Việt, con đường phía trước có lẽ vẫn rất dài.
Thế nào là hàng Việt?
Ngày
31/7/2009, Bộ Chính trị đã ban hành văn bản số 264-TB/TW về việc tổ
chức cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Sau thời
điểm này, chương trình đã được phát động trên toàn quốc.
Gần
một năm sau, tại các hệ thống siêu thị lớn ở Hà Nội như: Big C,
Fivimart, Hapro, sản phẩm nhập khẩu đã giảm đáng kể, chỉ chiếm khoảng
20-30% trong tổng lượng hàng hóa.
Ồng
Trần Mạnh Cảnh, Phó tổng giám đốc Hapro cho biết: hiện hàng hóa được
bày bán trong các siêu thị của Hapro, hàng nội đã chiếm tới 70-80%.
Không
chỉ tăng về số lượng được bày bán mà lượng tiêu thụ thời gian qua cũng
đã tăng đáng kể. “So với cùng kỳ năm trước, lượng hàng hóa trong nước
sản xuất được bán ra đã tăng thêm khoảng 20%”, bà Vũ Thị Hậu, Phó tổng
giám đốc Fivimart nói. Nguyên nhân chính theo bà là chất lượng, mẫu mã
hàng hóa đã được cải tiến nhiều và giá cả cũng đã cạnh tranh hơn.
Tuy
vậy, theo bà Vũ Kim Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và
Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tới thời điểm này, không phải người tiêu dùng
nào cũng đã hiểu đúng thế nào là hàng Việt.
Theo
bà, hàng Việt không nên hiểu đơn thuần là những sản phẩm do các công ty
100% vốn trong nước sản xuất, mà còn là sản phẩm của các công ty nước
ngoài liên doanh với các công ty Việt Nam sản xuất. Ngoài ra, sản phẩm
của các tập đoàn, công ty đa quốc gia sản xuất ở Việt Nam, mang thương
hiệu quốc tế vẫn được coi là hàng nội địa.
Cũng
theo bà Hạnh, mặc dù khuyến khích dùng hàng hàng Việt, nhưng tinh thần
của cuộc vận động không hề “bài ngoại”, đóng cửa đối với hàng hóa của
nước ngoài. Trên thực tế, đây còn được coi là những đối thủ cạnh tranh
để cho các nhà sản xuất trong nước phải cải tiến công nghệ, nâng cao
năng suất chất lượng, kiểu dáng, giảm giá thành để đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
Phân phối tại nông thôn: Điểm then chốt
Mặc
dù đánh giá là cuộc vận động bước đầu đã có những chuyển biến nhất định
trong nhận thức của người tiêu dùng, nhưng ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch
Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, vẫn cho là để thói quen tiêu dùng này thực sự
“ăn sâu, bám rễ” vào từng người dân, thì phải xây dựng được hệ thống
phân phối xuống tận vùng nông thôn.
“Để
hàng hóa sản xuất trong nước đến được với người dân nơi vùng sâu, vùng
xa, bản thân doanh nghiệp phải chủ động, tích cực đưa hàng tới các khu
vực này thay vì cách tiếp cận còn mang tính hành chính, phong trào như
hiện nay. Một vài tháng mới có một chuyến hàng về nông thôn thì không
thể tạo ra được hiệu ứng tốt”, ông Phú nhìn nhận.
Với
kinh nghiệm của đơn vị từng tổ chức thành công 37 chuyến đưa hàng về
nông thôn của 17 tỉnh trong cả nước cho hàng trăm doanh nghiệp, bà Kim
Hạnh cho biết: ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua đã
khiến các doanh nghiệp thực sự nhận thức rằng phục vụ thị trường nội địa
là việc sống còn của họ.
Tuy
nhiên, nếu “đơn thương độc mã” khi tiếp cận thị trường nông thôn thì
doanh nghiệp sẽ vấp phải không ít khó khăn về thủ tục giấy tờ, cơ quan
quản lý thị trường… Nhiều khi hiệu ứng sẽ không lớn như đi theo các đoàn
lớn có tổ chức.
Vì
vậy, bước đầu các doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ từ phía các cơ quan
quản lý để tiếp cận thị trường, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Đó chính
là cơ sở để doanh nghiệp gây dựng hệ thống phân phối tại các khu vực
này.
Tán thành
với những quan điểm trên, Phó tổng giám đốc Hapro Trần Mạnh Cảnh còn cho
rằng, phải xây dựng được hạ tầng thương mại tới tận vùng nông thôn thì
mọi người tiêu dùng mới có cơ hội tiếp cận và sử dụng Việt Nam đảm bảo
tiêu chuẩn chất lượng.“Đây mới là điểm then chốt để thực hiện thành công
cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt”, ông Cảnh nhìn nhận.
Ông Vũ Vinh Phú cũng "hiến kế": cơ quan chức năng cần có những quy định
chặt chẽ hơn để tránh hiện tượng nhà sản xuất “bán đứt” sản phẩm cho các
đại lý, khiến các đơn vị này tự do quyết định giá bán, làm người tiêu
dùng bị thiệt.
Nhìn
từ góc độ truyền thông, bà Kim Hạnh nhấn mạnh: không nên đơn thuần
tuyên truyền cho người tiêu dùng thấy được các ưu điểm nổi trội của hàng
hóa Việt Nam so với hàng nhập khẩu, mà còn phải thuyết phục người tiêu
dùng bằng tình cảm như dùng hàng Việt họ sẽ giúp đỡ được cho những người
thân, cũng như những lao động khác có công ăn việc làm.
Theo Branding Viet Nam |